Logo Cung Cấp
Nhớ anh Sáu Thượng...

Nhớ anh Sáu Thượng...

1 tháng trước vanhoavaphattrien.vn

Có thể nói, đây là một trong những đơn vị quân đội đầu tiên của chúng ta vượt Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu. Các anh có 28 người, là những sĩ quan trẻ, quê ở miền Nam. Đồng chí Bùi Thanh Vân (sau này là Trung tướng) là trưởng đoàn và anh Sáu Thượng được làm bí thư chi bộ.


Cuối năm 1959, đang từ một đơn vị của sư đoàn 338 (sư đoàn của những cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết) đóng ở Xuân Mai (Hòa Bình cũ), anh Sáu được Quân ủy Trung ương gọi về Hà Nội, chuẩn bị một công tác mới. Cả một sư đoàn hàng nghìn người, mà trên chỉ gọi một vài anh em, hẳn là một nhiệm vụ gì quan trọng lắm. Một linh cảm rạo rực trong anh: Hay mình chuẩn bị được trở về quê với mẹ? Mới là linh cảm thôi, nhưng đã cảm thấy sung sướng và hạnh phúc vô vàn…

Ngay khi rời đơn vị về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, dù chưa biết cụ thể là nhiệm vụ gì, nhưng linh cảm đã làm anh có cảm tưởng như đã bắt đầu được lên đường, thực hiện khao khát của mình. Nhưng nghiệt ngã làm sao, tới Hà Nội chưa được ấm chỗ, thì anh lại bị trả về đợn vị.

Nguyên do là tất cả các anh em được đưa về để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới này đều phải qua phòng khám sức khỏe. Khi khám cho anh, đồng chí thiếu tá bác sĩ đã bàng hoàng khi phát hiện trong buồng phổi của anh còn cả một mảnh đạn. Đó là một mảnh đạn của giặc Pháp còn găm lại từ cuộc kháng chiến lần trước, mà tới giờ vẫn chưa gắp ra được, hoặc nói đúng hơn là không thể lấy ra được nữa. Và đây là lý do duy nhất để anh bị trả về.

Khi biết đích xác rằng việc các anh được tập trung về đây là để chuẩn bị cho những đoàn quân đầu tiên trở về miền Nam chiến đấu thì anh nhất quyết không chịu bó tay nữa. Không thể vì một vết đạn “xoàng” ấy mà mất đi hạnh phúc lớn lao, không có tới lần thứ hai trong đời. Anh nhất quyết ở lại, tìm đến cả các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng, của quân đội để trình bày nguyện vọng của mình. Và rồi nhiệt tình cháy bỏng của anh đã được chấp thuận, anh lại được ở lại để chuẩn bị lên đường.

Có thể nói, đây là một trong những đơn vị quân đội đầu tiên của chúng ta vượt Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu. Các anh có 28 người, là những sĩ quan trẻ, quê ở miền Nam. Đồng chí Bùi Thanh Vân (sau này là Trung tướng) là trưởng đoàn và anh Sáu Thượng được làm bí thư chi bộ.

Tháng 11, các anh lên đường. Do yêu cầu bí mật tuyệt đối, cuộc hành quân này tuy trang nghiêm, nhưng hết sức lặng lẽ, không một khúc quân hành vang theo,

Qua Nam Định, Thanh Hóa, Vinh… những xóm làng miền Bắc thân yêu hằng ấp ủ và chấp cánh cho các anh trở về quê mẹ hôm nay. Cho tới Vĩnh Linh, khi dòng sông Bến Hải bên trong, bên đục hiện ra trước mắt, thì đơn vị đột ngột ngoặt sang một bến kín vượt sông. Rồi từ đây, các anh bắt đầu cặp theo triền Trường Sơn đi miết về phía Nam.

Hành trang trên vai mỗi người lúc ấy quãng hơn 30 ki-lô-gam. Ngoài một bộ quần áo và thuốc men, lương thực, còn lại là vũ khí. Đây là những khẩu súng, những viên đạn… đầu tiên của miền Bắc trang bị cho miền Nam. Cũng không thể không nhắc đến một mặt hàng hết sức quan trọng khác mang trên vai các anh lúc đó là vàng. Vàng của đất nước, của miền Bắc gửi cho miền Nam để chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới.

Cả đơn vị cứ lặng lẽ đi men theo triền núi. Theo những con đường do chính mình khai phá. Nhưng lại không được để lại một dấu vết gì. Nhất là dấu giày, vết dép. Chính do vậy nên mọi người phải lội đất trong khi đó thì giày dép lại phải mang cả trên vai. Cứ đầu trần, chân đất như vậy mà vượt núi, băng rừng, đạp gai, dẫm đá. Những buổi đầu đôi chân phồng rát lên, có người còn bị tướt cả máu nữa. Nhưng đi mãi rồi cũng thành quen…

Riêng với anh Sáu, một hoàn cảnh khắc nghiệt hơn đến với anh. Đi được quãng một phần ba chặng đường, bỗng thấy nhói bên ngực phải. Cứ nghĩ do quai ba lô siết. Nhưng nới quai rồi vẫn thấy đau, càng đi càng đau. Cho đến lúc anh ói, ói ra máu đỏ nọc. Đồng đội nhìn anh ói mà nước mắt lưng tròng. Cái mảnh đạn tai quái trong buồng phổi của anh đó, rình lúc căng thẳng, mệt mỏi,lại trỗi dậy hành hạ anh. Trước tình hình sức khỏe của anh như vậy, chi bộ họp và quyết định phải đưa anh trở lại miền Bắc. Nhưng với quyền bí thư, anh gắng thuyết phục mọi người cho mình đi tiếp. Có lẽ do quá thông cảm và nể tình, cho nên mọi cánh tay lại giơ lên phủ quyết lại quyết định trước đó của mình. Và rồi chính những cánh tay đồng chí đã mở ra, gánh vác dùm anh những khối hành lí nặng nề trên vai.

Mỗi chặng đường đi, lại gặp mỗi khó khăn mới. Càng về cuối con đường lương thực càng vơi cạn.

Cho đến lúc chỉ còn lại những lon gạo cuối cùng. Chi bộ lại phải họp và quyết định từ đây chỉ được ăn rau rừng, dành phần gạo còn rất ít ỏi đó phòng những trường hợp thật đặc biệt. Hai tháng trời ròng rã chỉ ăn rau rừng, lá rừng, người ai cũng xanh mướt. Mãi cho tới lúc gần tới Phước Long, anh Sáu mới reo lên với anh em:

- Yên tâm đi! Sắp tới Phước Long rồi. Bí thư ở đó là anh Bảy Thẩm, trước kia mình rất thân. Mai này qua đó, mình sẽ vô xin chi viện cho chúng mình lương thực…

Khi đi ngang qua vùng căn cứ Bà Rịa, anh Sáu Thượng dặn anh em đứng chờ bên ngoài, để anh tìm vô căn cứ của các đồng chí Tỉnh ủy Phước Long. Nhưng thiệt không thể tưởng tượng nổi. Trong những rừng le, anh Bảy Thẩm cùng ba đồng chí còn sót lại của Tỉnh ủy đang phải chịu đựng một cuộc sống gian khổ gấp nhiều lần nỗi cực khổ của các anh. Hàng tháng trời nay các đồng chí trong Tỉnh ủy này không có lấy một hạt bắp, chứ đừng nói gì hạt gạo để ăn. Ngoài ra, lại còn bị bệnh tật, sốt rét triền miên mà cũng không có lấy một viên thuốc. Nhìn thấy các đồng chí còn da bọc xương, anh Sáu ôm lấy anh Bảy mà nước mắt giàn giụa trên má. Mãi rất lâu, anh Bảy mới run run đề nghị:

- Mới ở miền Bắc vô, còn gạo ủng hộ cho bọn mình với…

Anh Sáu lặng lẽ đi ra ngoài, ngồi kể lại với anh em. Và mọi người dốn hết số gạo còn lại cho các đồng chí Phước Long. Riêng anh Sáu còn lại một củ sâm duy nhất mà Trung ương dành bồi dưỡng cho các anh phòng khi đi đường, anh cũng mang vô tặng anh Bảy và anh em ở Tỉnh ủy…

*

Cho đến khi đặt chân tới Mã Đà, vùng rừng núi chiến khu Đ lịch sử ngày đánh Pháp, cũng đang là căn cứ địa đánh Mỹ lúc bấy giờ, thì cả 28 anh em mới hiểu rằng mình đã về tới đất mẹ, nước mắt cùng chảy trên má họ. Miền Nam đây rồi. Quê hương đây rồi. Đồng chí, đồng bào đây rồi. Các anh ùa hết xuống sông Đồng Nai, vốc nước uống cho đã khát đã thèm, rồi quỳ xuống hất nước khắp người cho đẫm ướt tình yêu…

Trước mắt họ là những cánh rừng già trang nghiêm. Nơi đây, suốt bao năm đen tối qua, bao trái tim kiên cường của Đảng, của quê hương vẫn thao thức bền bỉ nhen nhóm ngọn lửa đánh Mỹ. Khi các anh vừa đặt chân tới, tất cả các đồng chí có mặt ở chiến khu lúc ấy cùng ùa ra mở rộng vòng tay ôm chầm lấy anh em, mừng mừng, tủi tủi. Thay mặt toàn đoàn, anh Vân, anh Sáu Thượng đã báo cáo lại với các đồng chí trong Khu ủy tình cảm của Bác, của Trung ương của quân đội, và cả của nhân dân miền Bắc với miền nam.Rồi các anh trao lại cho Khu ủy tất cả súng đạn và vàng bạc, máy móc mà Trung ương trang bị cho Cách mạng miền Nam. Cầm những khẩu súng trên tay, các đồng chí Khu ủy cùng run lên vì xúc động. Võ khí của Đảng đây rồi. Võ trang đây rồi. Có võ khí, có võ trang, có quân đội là có ngày chiến thắng.

Một thời gian rất ngắn sau, vào tháng 7-1961 từ 28 cán bộ quân đội này, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Chiến trường Nam Bộ được thành lập. Đồng chí Hai Xô, Thường vụ Khu ủy phụ trách quân sự chỉ rõ: “Tiểu đoàn đầu tiên là đốm lửa, và sau này cháy thành rừng lửa để góp phần cùng toàn quân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…”

CCB, nhà văn Châu La Việt