Logo Cung Cấp
Những bí mật động trời của người trần được tiết lộ bởi người âm

Những bí mật động trời của người trần được tiết lộ bởi người âm

1 tháng trước vanhoavaphattrien.vn

Đang mải mê nghiên cứu khả năng đặc biệt của chị Nguyệt, đang say sưa ghi chép những câu chuyện bí mật được tiết lộ bởi thế giới người âm thì một hôm, chị bạn đồng nghiệp ở báo Ngân hàng đến nhà chơi, đưa tôi một tập tài liệu bảo: 'Cậu đọc cái này đi. Hay lắm. Kỳ lạ lắm. Đọc xong, cả tối qua chị chẳng ngủ được vì sợ. Nó sẽ giúp cậu có thêm tư liệu nghiên cứu về thế giới tâm linh '.


Ngay ngày hôm sau, tôi quyết định tìm đến tận nhà chị Nguyệt ở Nam Sách, Hải Dương. Hỏi thăm đường, người dân địa phương ai cũng biết. Bởi một lẽ giản đơn: chị đã quá nổi tiếng. Bởi nhiều năm nay, họ đã quá quen cảnh khách thập phương nườm nượp đổ về nhà chị mỗi ngày.

Nhà chị đây rồi. Ngôi nhà 2 tầng cũ kỹ, nằm nép mình dưới tán nhãn cổ thụ khổng lồ. Trước mặt là chiếc ao rộng, phủ đầy bèo cái. Trong nhà, ngoài sân, chật kín người đi gọi hồn. Họ đến đây xếp hàng từ sáng sớm. Đông người nhưng không khí vô cùng tĩnh lặng bởi mọi người đều chăm chú lắng nghe cuộc trò chuyện giữa vong linh của một liệt sĩ và người vợ ở hậu phương đã không giữ được lòng chung thủy, ngoại tình và có con riêng. Cuộc gặp gỡ đầy buồn tủi, giận hờn và ngập tràn nước mắt.

Tìm hiểu, được biết, chị Nguyệt có khả năng tâm linh từ những năm 1990 sau những tháng ngày điên loạn. Chị vốn xuất thân con nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ. Học hết lớp 7, chị ở nhà làm ruộng rồi lấy chồng cùng làng. Chồng chị, tên Lê Văn Tăng, cũng là con nhà nông dân nghèo. Hai vợ chồng làm nghề hàng xáo. Ngày ngày, đạp xe thồ đi các nơi thu mua thóc mang về xay, giã, dần, sàng thành gạo sạch rồi lại đem đi các chợ bán. Công việc rất nhọc nhằn, lam lũ mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Sinh đứa con gái đầu lòng được vài tháng, bỗng nhiên chị phát điên. Nửa đêm, trời rét, chị lao “tùm” xuống chiếc ao trước cửa nhà đánh bồng ùm ùm. Tắm táp chán, chị lại leo lên cây nhãn cổ thụ mốc thếch ngồi vắt vẻo hát nghêu ngao. Gia đình chạy chữa hết Tây y đến Đông y, hết thuốc Bắc đến thuốc Nam đều không khỏi. Một bà đồng ở làng bên thấy vậy bảo chồng chị: “Vợ anh là con nhà Thánh, bị cơ đày. Nếu làm lễ trình đồng mở phủ, lập bát hương thờ Mẫu thì mới khỏi. Sau này cô ấy còn có khả năng đặc biệt đấy”. Về nhà, nhìn vợ đầu tóc xõa xượi, quần áo bề bệt bùn đất, đang ngồi hềnh hệch cười với con chó vện, anh bưng mặt khóc. Thương vợ đứt ruột mà chẳng biết làm cách nào. Lời bà đồng, anh tin chứ. Anh muốn làm lễ ngay ngày mai nhưng cả nhà đã khánh kiệt, tiền mua thuốc còn chẳng có, lấy đâu ra mà trình đồng với mở phủ. Càng nghĩ, càng tuyệt vọng, anh càng khóc to. Bỗng anh nghe một giọng nói lạ mà quen: “Đừng khóc con. Vợ con không phải bị điên đâu. Nó là con Cha con Mẹ. Kiếp trước do tạo nghiệp nặng nên kiếp này phải chịu cơ đày. Con cứ đến nhà bà đồng đăng ký làm lễ đi. Nói với bà lập bàn thờ Mẫu ở chính gian giữa nhà con. Làm lễ xong, vợ con ắt khỏi”. Anh ngẩng mặt lên nhìn. Giật mình. Vợ anh, chị Nguyệt. Vẫn chiếc quần phăng rách rưới, vẫn chiếc áo hoa cộc tay bẩn thỉu, hôi hám, vẫn mái tóc rối bù bề bệt nhưng đôi mắt, thần thái, nét mặt không còn là của người điên xám ngoét, lờ đờ, dờ dại nữa mà hồng hào, sáng quắc, nhân từ và uy nghi. Anh bàng hoàng, giơ tay dụi mắt ngỡ mình đang mơ. Không! Anh đang tỉnh. Con chó vện đang quấn quýt ôm chặt chân vợ anh đùa giỡn kia mà. Anh nói, giọng rầu rầu: “Nhưng nhà mình làm gì còn xu nào?”. Chị Nguyệt cười bảo: “Đừng lo! Con hãy đào gốc cây nhãn kia lên, chỗ cái rễ cây cong queo như con trăn kia kìa. Sẽ đủ để con làm lễ và lập bàn thờ Mẫu”. Đưa mắt nhìn về phía gốc cây nhãn rồi nhìn vợ, anh tỏ vẻ nghi ngại. Chị Nguyệt giục: “Đi đào khẩn trương. Con sẽ thấy điều kỳ diệu”.

Anh Tăng vội chạy xuống bếp, lấy cuốc, xẻng ra gốc nhãn đào. Đào chừng nửa tiếng, hố sâu khoảng 50 cm, lưỡi cuốc chạm vào một chiếc hũ sành màu nâu đen, thân phình, miệng và đáy tròn. Tay run run, anh nín thở, mở nắp hũ. Bên trong hũ lộ ra một chiếc túi lụa màu đỏ, buộc thắt nút. Anh rón rén mở. Trời! Vàng! 4 chiếc nhẫn vàng. Mắt anh hoa lên. Mồ hôi túa ra. Ngực khó thở. Hít một hơi thật sâu, căng mắt nhìn lần nữa. Đúng là vàng thật rồi. Anh vội chạy ào về phía chị Nguyệt định quỳ sọp lễ tạ. Anh sững người. Chị Nguyệt mặt mũi lại ngây dại đang đùa cười ngặt nghẽo với con chó vện.

Lễ trình đồng mở phủ với đầy đủ các nghi thức quan trọng được tiến hành một cách nhanh chóng. Bàn thờ Mẫu trang nghiêm cũng được bày đặt trang trọng giữa nhà. Chín ngày sau, chị Nguyệt hết điên. Có điều, kể từ bấy, chị bắt đầu nghe thấy tiếng nói của người âm. Chín tháng sau, chị bắt đầu nhìn thấy hình ảnh của người đã chết. Sứ mệnh của một nhà ngoại cảm chuyên gọi hồn bắt đầu từ đây.

Sau nhiều lần xuống nhà chị Nguyệt, tôi và chị trở nên thân thiết như chị em ruột. Hàng tháng, những khi rảnh rỗi, tôi lại đón chị lên nhà tôi ở Hà Nội một vài hôm. Tôi mời anh em, bạn bè, người thân đến gọi hồn để nghiên cứu. Tất cả các cuộc gặp gỡ, tôi đều ghi âm, quay phim đầy đủ. Tôi phát hiện ra, chị Nguyệt có hai cơ chế gọi hồn đặc biệt. Một là, chị cho các vong linh nhập vào chị (mượn xác). Khi đó, chị Nguyệt không còn là chị Nguyệt nữa. Vong linh đứa trẻ nhập vào thì chị trở thành đứa trẻ. Cụ già nhập vào thì chị trở thành cụ già. Vong linh đàn ông, đàn bà, thi nhân, liệt sĩ, đầu trộm đuôi cướp, đĩ điếm, nghiện hút… Chị như một diễn viên tài năng một mình hóa thân thành hàng trăm, hàng ngàn nhân vật khác nhau vô cùng sống động. Tôi thích cơ chế này nhất vì nó cho ta cảm giác chân thật, gần gũi y như đang trò chuyện với người thân lúc còn sống. Cơ chế thứ hai, giống như nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, chị Nguyệt nghe các vong linh nói rồi truyền đạt lại cho người đi gọi.

Qua hàng trăm cuộc gọi hồn như thế, tôi phát hiện ra rằng, thế giới người âm cũng vô cùng sống động, hỗn tạp với đầy đủ các cung bậc hỉ, nộ, ái, ố như thế giới người trần. Và tính cách lúc sống như thế nào, khi chết, vẫn y như vậy. Cụ đồ nho ăn nói nho nhã, sâu sắc, phong thái mực thước, chỉn chu. Tên đồ tể thì bặm trợn, thô lỗ. Có con nghiện chết vì sốc thuốc, vừa nhập vào chị Nguyệt mặt đã tái dại, mắt lờ đờ, miệng sùi bọt mép, giơ cánh tay đòi người nhà chích thuốc. Có bác liệt sĩ vui tính thích làm thơ, nghiện rượu, mê thuốc lá. Bác có tài xuất khẩu thành thơ. Cứ đọc hết một bài thơ lại nâng chai rượu cuốc lủi, ngửa cổ tu một hơi rồi chẹp miệng đánh “khà” đầy khoái trá. Từ lúc nhập vào chị Nguyệt lên nói chuyện với vợ con đến lúc rời đi, bác uống hết 2 chai nửa lít, đốt hết một bao thuốc Vina. Thế mà chị Nguyệt vẫn tỉnh như sáo, mặc dầu cả đời chị chẳng bao giờ hút một điếu thuốc, nhấp một ngụm rượu gọi là. Thật lạ kỳ!

Qua những cuộc “gặp gỡ” kỳ lạ như vậy, rất nhiều bí mật, uẩn khúc của gia đình bạn bè, người thân tôi được tiết lộ. Anh M. - Tổng giám đốc một tập đoàn truyền thông lớn, ông trùm của nhiều chương trình truyền hình thực tế và các cuộc thi ca hát trông rất đạo mạo, chỉn chu. Thế mà, lúc vong linh bà nội anh lên, bà thống kê chi tiết tên tuổi của từng cô bồ một. Cô A., 19 tuổi, Á hậu. Cô B., 22 tuổi, quán quân cuộc thi X… Cụ còn tường thuật rành rẽ lúc tán tỉnh nhau thế nào? dẫn nhau đi ngủ ở đâu? anh M. mua tặng tình nhân những gì? khiến ông trùm truyền thông uy quyền là thế mà toàn thân run bần bật như con cầy sấy, cứ cúi đầu, quỳ gối, chắp tay lạy chị Nguyệt như tế sao: “Con lạy bà! Bà tha cho con. Con biết tội của con rồi”. Thầy giáo dạy đại học của tôi có người mẹ 81 tuổi, bị tai biến, liệt nửa người, không đi lại được. Một đêm nọ, căn phòng ngủ của bà bị bốc cháy. Lúc phát hiện ra thì bà đã chết, toàn thân đen thui. Một số người độc mồm độc miệng loan tin: vợ thầy vì ghét mẹ chồng, trốn tránh trách nhiệm chăm sóc đã phóng hỏa đốt bà. Điều đó khiến không chỉ vợ chồng thầy mà cả gia đình thầy vô cùng đau đớn và phẫn uất. Lúc đến nhà tôi để gặp chị Nguyệt, thầy bức xúc bảo: “Có là loài cầm thú thì mới nhẫn tâm đi giết mẹ mình”. Song chính thầy, đến tận lúc đó, cũng không biết vì sao bà lại bị chết cháy? Chị Nguyệt bèn vời vong linh bà lên. Bà vừa khóc, vừa kể: “Khổ. Nửa đêm hôm đó, mẹ thấy khát nước quá. Nhìn đồng hồ mới hơn 1h sáng. Gọi con sợ mất giấc ngủ nên mẹ cố nhoài tay với cái chai nước đặt ở kệ tủ đầu giường. Ai dè, tay mẹ chạm phải cái đèn dầu. Nó đổ ào. Lửa bén luôn vào màn, vào chăn rồi cháy bùng lên. Mẹ sợ quá. Muốn kêu cứu mà lưỡi cứ líu lại. Nóng quá. Toàn thân mẹ bỏng rát. Lửa bao trùm cả giường. Lúc các con phát hiện ra, phá cửa thì mẹ đã chết thui rồi. Mẹ xin lỗi các con đã gây ra cái chết đầy uẩn khúc để các con mang tiếng oan là giết mẹ”.

Cô bạn thân thiết của tôi, người gốc Quảng Bình, làm việc ở Sở tài chính, gọi hồn bà nội. Bà lên, tiết lộ một bí mật động trời: Bố cô bạn tôi không phải là con đẻ của ông nội cô ấy. Bà kể, năm 1963, khi ấy bà là thiếu nữ 19 tuổi, đẹp ngời ngời. Có biết bao chàng trai trong làng để ý, đeo đuổi nhưng bà chẳng thích ai. Bởi bà đã phải lòng anh lính Hà Thành vốn là sinh viên khoa Văn, Trường Đại học tổng hợp trắng trẻo, thư sinh, đàn hay, hát giỏi. Vào một đêm trăng thanh, không kìm chế được lòng mình, bà đã trao thân cho chàng lính hào hoa ấy. Mấy hôm sau, chàng ra trận. Cuộc chia ly đầy quyến luyến, khóc thương cùng lời hứa hẹn: “Anh sẽ trở về cưới em”. Nhưng chiến tranh khốc liệt. Người đi, mấy ai về? Người đi, biết bao giờ trở lại? Chờ đợi mỏi mòn mà chẳng nhận được một cánh thư, một lời nhắn gửi, trong khi mầm sống trong bụng mỗi ngày mỗi lớn. Bà bắt đầu hoảng sợ. Ở miền quê trọng giáo lý như quê bà, con gái chửa hoang thì kinh khủng lắm. Tội tày trời. Chỉ có nước bỏ làng ra đi vĩnh viễn, cha mẹ ở lại suốt đời chịu lời đắng cay. Bà nhắm mắt cưới anh T., người cùng xóm, người đã kiên trì đeo đuổi bà suốt bao năm. Cuộc hôn nhân không tình yêu khiến bà cảm thấy không hạnh phúc nhưng nó giúp bà được yên thân. Bảy tháng sau đám cưới, bà sinh hạ được một cậu con trai bụ bẫm, kháu khỉnh. Cả nhà hai bên nội ngoại vui không kể xiết. Duy nhất chồng bà, mặt mũi lầm lỳ, suốt ngày vùi đầu vào những cơn say. Cả nhà, ai cũng yêu thương cậu bé, nâng niu, cưng nựng như cục vàng. Riêng chồng bà, lạnh lùng, hắt hủi, mắng chửi, đánh đập. Ai cũng lấy làm lạ. Sau này, lớn lên, chứng kiến cảnh ông nội lạnh nhạt với bố mình, chỉ quan tâm đến các cô chú em ruột bố, mặc dầu bố rất hiếu đễ, cô bạn tôi cứ thắc mắc: “Bà ơi! Con thấy hình như ông nội ghét bố con. Bố con thương ông nội thế mà chẳng bao giờ ông nội quan tâm đến bố con, thậm chí một nụ cười dành cho bố con cũng chẳng có. Sao thế hả bà?”. Bà cười buồn: “À! Tại bố con không hợp tính, hợp tuổi với ông nội ấy mà. Ông bên ngoài lạnh lùng với bố con thế thôi chứ trong tâm, ông thương bố con nhiều lắm”. “Hay tại các cô chú nhà mình, ai trông cũng giống ông nội. Chỉ riêng bố con lạc loài, chẳng mang nét gì của ông nên ông không ưa?”. Bà lại cười buồn: “Cha con giống bà”. Nhưng bây giờ, cô bạn tôi đã hiểu: Vì sao cha mình không có một nét gì giống ông nội? Vì sao cả tuổi thơ và cho đến tận bây giờ, khi cha mình đầu đã hai thứ tóc, ông nội chưa một lần mỉm cười, chưa một lần thăm hỏi, chưa một lần dành cho cha mình một cái nhìn trìu mến? Vì sao cả làng, cả xã ai cũng khen bà sung sướng mà trong sâu thẳm đôi mắt bà, phảng phất thường trực trên khuôn mặt bà là một nỗi buồn bàng bạc. Cô bạn tôi òa khóc nức nở, ôm chặt lấy chị Nguyệt: “Cháu thương bà quá bà ơi!”.

Đang mải mê nghiên cứu khả năng đặc biệt của chị Nguyệt, đang say sưa ghi chép những câu chuyện bí mật được tiết lộ bởi thế giới người âm thì một hôm, chị bạn đồng nghiệp ở báo Ngân hàng đến nhà chơi, đưa tôi một tập tài liệu bảo: “Cậu đọc cái này đi. Hay lắm. Kỳ lạ lắm. Đọc xong, cả tối qua chị chẳng ngủ được vì sợ. Nó sẽ giúp cậu có thêm tư liệu nghiên cứu về thế giới tâm linh ”. Tôi vội mở trang đầu tiên: “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Đề tài TK08. Tìm hài cốt liệt sĩ trong trận đánh K’Nack”. Như bị một sức hút vô hình, tôi đọc ngấu nghiến: “Căn cứ biệt kích K’Nack nằm trên 3 quả đồi chạy dọc Bắc Nam, có nhiều lợi thế quân sự. Nơi đây đồi núi lô nhô, thuận lợi cho việc xây dựng phòng thủ và bố trí binh lực, hỏa lực, xuất phát tiến công. Lại có nhiều thung lũng sình lầy, có sông Ba và khe suối bao bọc, cản trở khi bị đối phương tiến công. Mỹ ngụy đã xây dựng ở đây một cụm cứ điểm bao gồm đồn lũy bảo vệ, sân bay dã chiến và trại pháo nhằm chặn cắt đường giao liên giữa Bình Định và Gia Lai. Quân ta đã nhiều lần tập kích căn cứ này nhưng đều không thành công. Mùa xuân năm 1963, Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định tập trung lực lượng trên quy mô lớn tấn công căn cứ này. Lực lượng ta gấp 3 số lượng địch, gồm: Tiểu đoàn đặc công 409 quân khu 5, một đơn vị đặc công của tỉnh Bình Định, trung đoàn số 10 và Bộ phận chỉ huy tiền phương quân khu 5. Tổng quân số lên tới gần 750 người.

14h ngày 7-3-1965, bộ đội ta xuất quân từ Kông-Hà-Nừng, cách K’Nack hơn 20 km. 18h, cách suối khô 500m. 19h, bắt đầu tiếp cận. Đến 23h, quân ta đã chiếm lĩnh xong các vị trí quy định. Theo kế hoạch, đặc công mở cửa diệt các vị trí trọng yếu. Sau đó, bộ binh dùng xung lực mạnh giải quyết trận địa. Song do quá trình trinh sát địa hình chuẩn bị trận đánh trước đó một tháng đã để lộ dấu vết nên địch biết trước kế hoạch tấn công của ta. 23h 30’, bộ đội ta vấp phải mìn nổ, mìn sáng. Địch lập tức nổ súng trùm lên toàn bộ đội hình của ta. Pháo sáng chúng bắn sáng rực như ban ngày. Ta tiến công cưỡng hành. Bộ đội ta chiến đấu cực kỳ dũng cảm, đã đánh chiếm được điểm cao phía Bắc và phía Nam nhưng hướng chủ yếu ở giữa chỉ chiếm được “đầu cầu”. Lô cốt cố thủ của địch bắn chặn quyết liệt. Đến 0h 30’ sáng ngày 8-3, quân ta thương vong gần hết. Xác của các chiến sĩ nằm la liệt trắng cả ven suối và chân đồi K’Nack. Lực lượng còn lại buộc phải rút lui. Địch vẫn bắn truy kích dữ dội. Gần 500 thương binh và tử sĩ của ta không mang theo được. Một phần địch gom lại, đổ xăng đốt. Số còn lại, dùng xe ủi đào từng hố hất các liệt sĩ xuống rồi san phẳng.

Đồng chí Nguyễn Văn Ẩm, chính trị viên phó Tiểu đoàn 409, phụ trách công tác thương binh ở trạm trung phẫu (cách vị trí địch khoảng 8km) cho đào sẵn 50 huyệt mai táng. Mỗi hàng 10 huyệt, cách nhau 60 - 80cm nhưng duy nhất chỉ mai táng được 8 đồng chí, trong đó có tiểu đoàn trưởng Ngô Trọng Đãi và liệt sĩ Phạm Văn Thành. 8 đồng chí này bị thương ngay từ đầu trận đánh nên mới đưa ra được phía sau. Lực lượng cứu thương và dân công hỏa tuyến (đều là người dân tộc) cũng hy sinh hết cả nên không còn người cấp cứu và tải thương ra cứ được. Nếu tính cả lực lượng này, hơn 1.000 người đã để lại xương thịt ở trận địa K’Nack.

Điều đau lòng là nếu không có cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt người anh thân yêu Phạm Văn Thành của giám đốc công ty S-fone Phạm Văn Mẫn thì có lẽ mãi mãi, người đời sẽ chẳng biết gì về trận đánh khốc liệt vào trường biệt kích của địch ở K’Nác năm xưa. Và chắc chắn, thịt xương của ngót 500 chiến sĩ sẽ vĩnh viễn chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy ao chuôm, chuồng trại, nhà cửa… Bởi lẽ, trong hầu hết các trang sử của những đơn vị bộ đội, chẳng có một dòng ghi chép nào nhắc đến trận đánh K’Náck tối ngày mồng 7, rạng sáng ngày 8-3-1965 buồn thảm ấy. Bộ đội ta hy sinh quá nhiều. Máu của các chiến sĩ đã nhuốm đỏ dòng suối Đắc – lốp. Xác các anh phơi trắng chân đồi. Theo thượng tướng Nguyễn Nam Khánh thì sở dĩ người ta cố tình quên đi vì sợ bị quy trách nhiệm. Cách hành xử ấy không những có lỗi với các chiến sĩ đã hy sinh mà còn có lỗi với thân nhân các gia đình liệt sĩ vì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho họ trong việc tìm kiếm hài cốt chồng con mình sau này”.

Câu chuyện khiến tôi xúc động, ám ảnh. Ngay ngày hôm đó, tôi tìm cách liên lạc với anh Phạm Văn Mẫn để phỏng vấn và xin được đồng hành cùng anh trong hành trìm kiếm tìm hơn 500 hài cốt liệt sĩ ở K’Nack. Có thể nói, đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời làm báo của tôi. Bởi bắt đầu từ đây, tôi trở thành nhà báo chuyên viết phóng sự về tâm linh. Cũng bắt đầu từ đây, tôi gặp gỡ, đồng hành cùng một loạt các nhà ngoại cảm nổi tiếng: Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy, Thẩm Thúy Hoàn, chị Năm Nghĩa… để rồi, sau này, chính họ đã giúp gia đình tôi tìm được mộ cụ tổ 6 đời và hàng loạt các ngôi mộ khác.

Trong suốt hành trình dằng dặc theo chân các nhà ngoại cảm đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, tôi đã tận mắt chứng kiến quá nhiều những chuyện kỳ bí, huyền hoặc của chốn rừng thiêng, nơi mà mỗi con suối, bụi cây đều thấm đỏ máu đào của các anh hùng liệt sĩ. Tôi cũng đã quá nhiều lần thực chứng sự linh ứng giữa hai cõi âm – dương để rồi nhiều lần bật khóc vì xúc động. Nhờ đó, một nhà báo trẻ sinh ra trong thời bình như tôi, đến tận lúc ấy, mới hiểu, chiến tranh khốc liệt như thế nào? Đến tận lúc ấy, tôi mới thấm thía tận cùng cái giá của hòa bình mà thế hệ trẻ chúng tôi đang được hưởng quá đắt, phải đánh đổi bằng biết bao xương máu của các anh hùng liệt sĩ. Đến tận lúc ấy, tôi mới được chứng kiến nỗi đau vô chừng, dằng dai mấy chục năm ròng của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng, người con mất cha… Ôi nỗi đau thời hậu chiến, biết bao giờ mới kết thúc? Tất cả những điều đó khiến lòng tôi đau thắt, để rồi tâm phát khởi một hạnh nguyện: phải làm một điều gì đó cho những người nằm xuống, phải sớm tìm đưa các anh về với gia đình, quê hương. Và thế là suốt 15 năm trời, tôi cứ miệt mài khoác ba lô theo chân các nhà ngoại cảm, các đơn vị bộ đội lên rừng, xuống biển, vượt thác trèo non, đi tìm hài cốt liệt sĩ. Đó vừa là một hành động thiết thực để tri ân những thế hệ cha anh đã hy sinh thân mình vì nước, vừa là cánh cửa để tôi bước vào khám phá thế giới tâm linh huyền bí thông qua các nhà ngoại cảm nổi tiếng. Thường xuyên gặp gỡ, đồng hành, làm việc cùng họ, nhiều lúc, nhớ đến lời trăn trối cuối cùng của cha tôi: “Con hãy thay cha tìm mộ cụ tổ. Dù vất vả, khó khăn đến mấy, cũng phải tìm. Nếu không, ở nơi suối vàng, bố không dám gặp cụ. Con hứa với cha đi!”, tôi cũng muốn mở lời nhờ các nhà ngoại cảm tìm giúp. Song tận mắt chứng kiến cảnh biết bao người vợ hàng ngày đỏ mắt mỏi mòn ngóng trông chồng, sống khắc khoải không yên, cảnh những bà mẹ già chết không thể nhắm mắt vì chưa tìm được hài cốt của chồng, con mình, tôi lại dằn lòng không dám nhờ. Tôi muốn các nhà ngoại cảm ưu tiên họ, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trước.

(Trích trong tập phóng sự “Nhân quả và Phật pháp nhiệm màu” tập 3, dự kiến ra mắt đầu tháng 7/2021).

Hoàng Anh Sướng