Logo Cung Cấp
Gặp các bạn Mỹ tại William Joiner

Gặp các bạn Mỹ tại William Joiner

1 tháng trước nongnghiep.vn

Năm 2000, tôi, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, nhà thơ Nguyễn Duy cùng nhà văn Tô Đức Chiêu được mời sang Mỹ giao lưu với các bạn cựu chiến binh Trung tâm William Joiner.


Các nhà văn Tô Đức Chiêu, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, nhà văn Trung Trung Đỉnh (từ trái qua) cùng bạn văn Mỹ tại Trung tâm William Joiner.

Nguyễn Duy đã sang trước vì có cuộc triển lãm rất đặc biệt là tự tay viết các bài thơ dân dã của mình trên các vật dụng nông nghiệp nền văn hóa lúa nước như nơm, dậm, giỏ, cày, bừa, điếu cày điếu bát… sau đó cùng tổ chức ra mắt tập thơ mới cũng rất đặc sắc Việt Nam. Mới nghe thế tôi đã phục sát đất!

Với tôi, đây là lần đầu tiên được đi Mỹ với một tâm trạng rất nhiều xáo trộn, mặc dù đã nghe một số nhà văn sang trước kể lại. Tôi vốn là tay hiếu động tò mò thích đủ thứ. Mà tôi thì thấp bé nhẹ cân, đi bên cạnh anh Chiêu to con cao lớn mặt mũi lúc nào cũng nghiêm trang, quần áo lúc nào cũng thẳng nếp, nói năng lúc nào cũng nhỏ nhẹ, nhưng nếu hơi sai ý anh một tý là bác nhướng cặp lông mày dài lên nhìn tôi như thằng em sắp hư đến nơi!

Lúc đáp xuống sân bay Los Angeles , chúng tôi xếp hàng để chuyển sang tuyến đi Boston. Đang xếp hàng mụ Dạ bảo tôi: Đỉnh coi hộ đồ cho Dạ, Dạ đi toa lét tí nghe. Tôi tất nhiên là ok. Dạ biến vào nhà vệ sinh phía trước chừng dăm phút. Năm phút rồi mười phút, mười lăm phút, hai mươi, ba mươi phút không thấy Dạ, tôi và anh Chiêu bắt đầu hoang mang.

Trình độ tiếng Anh của ba anh em ngang nhau, có khi tôi khá hơn một chút, là tôi tự thấy thế! Chúng tôi phỏng đoán lung tung. Tôi bảo lạc thì đến chỗ mấy tay an ninh nhờ người ta đưa về chỗ xuất phát là được ngay.

Anh Chiêu bảo nó khôn như thế thì nó đã viết lạc rừng lạc phố rồi chứ đâu đến lượt chú! Mà này, anh trở nên nghiêm trọng hơn. Có khi nó bị bọn địch bắt cóc! Tôi bảo địch nào ở đây? Nó bắt cóc phải có mục đích gì chứ. Bắt cóc một nhà thơ nữ nổi tiếng của Việt Nam đâu phải chuyện đùa? Thế giới họ sẽ làm rùm lên, vấn đề chính trị hóa ra trò hề vô duyên.

Tô đại ca nhìn tôi chằm chằm một lúc rồi gật gù: “Chú có vẻ khá nhỉ!” Nhưng nhĩ thế nào anh lại nói: “Bọn phá hoại nhiều mặt đông như kiến cỏ!”. Tôi cãi, bọn ấy chỉ ở trong nước chứ sang đây làm được gì?! Mà xin nói thật với bác, em không tin! “Chú tin thì tin không tin thì thôi!”.

Tô đại ca nhướng cặp lông mày lên nhìn tôi một lúc rồi tự nhiên phá lên cười, kiểu cười xí xóa rất Tô Đức Chiêu, lão hay bảo: “Tớ thuộc diện vô vi”, chú lính Tây Nguyên mà ngu bỏ mẹ". Tôi chả thấy khôn ngu gì ở đây, nhưng ông anh đã nói thế thì thằng em chỉ có câm mõm.

Tôi ngồi tôi nghĩ kế một lúc sau bảo bác chờ đây, để em tính. Tôi đánh liều đến bên một cảnh sát da đen, nói tiếng Anh hẳn hoi: “Pho mi a lô”. Anh ta hỏi lại: “Pho mi a lô?”. Tôi nhắc lại. Anh ta không hiểu. Tôi cứ đinh ninh "Pho mi" tiếng Anh là "cho tôi", còn "A lô" là "gọi", là gọi trên loa chẳng hạn (Tôi khoa tay ra hiệu).

Quả thật, con người ta lúc lú hóa ra lẫn là chuyện đương nhiên. Anh cảnh sát kéo tôi vào một cái “bốt” gần đó, nói điện thoại, một lúc sau có một cô gái người Việt đến, cô ta hỏi: “Chú cần gì?” Tôi mừng quá trình bày về một người mất tích trong đoàn. Cô ấy là người rất quan trọng, tôi nhấn mạnh, một nữ thi sĩ nổi tiếng của Việt Nam, tên Lâm Thị Mỹ Dạ, vân vân.

Cô gái dạ dạ rồi gọi điện thoại tiếp, quay ra bảo tôi: “Bà Dạ bay đi Boston chuyến mới rồi. Ông và người cùng đoàn cảm phiền xem đồ cho bả, hai ông cùng đi chuyến sáng mai vậy”. Rồi cô ta không nói gì thêm, dẫn chúng tôi đến cửa đi Boston bảo chờ ở đó cần gì thì hỏi thêm nhân viên hãng, rồi bái bai.

Cả đêm ấy tôi và anh Chiêu ngồi ghế ở phòng chờ toan tính lung tung. Anh tiếc lên tiếc xuống tỉ mẩn chén hết cái bánh chưng, vì họ không cho khoản bí hiểm này lên máy bay. “Không cho thì ông đánh sạch”, anh hóm hỉnh nói.

Còn tôi đi loanh quanh lang thang hết đêm, cũng muốn xem họ đi lại mua bán ăn uống thế nào, có như ở ga Hàng Cỏ nhà mình không. Gần sáng mua được ly café cốc nhựa nhạt tèo nhưng nóng hôi hổi và nghe Tô đại ca lẩm nhẩm hát bài “Pháo ta dương nòng cao” mà phì cười!

Chả là hai cụ Tô Chiêu, Tô Hoàng, hai ông anh nhà văn của tôi đồng hương với văn sĩ Nhất Linh thuở Tự lực văn đoàn lừng danh và là niềm vinh dự tự hào của các cụ. Hai ông đều từng là lính pháo binh thời đánh Mỹ.

Hôm sau chúng tôi tới sân bay Boston thì đã thấy Dạ ra đón cùng vài người bạn nữa. Tôi cáu sườn quát Dạ rằng mi răng dám bỏ hai anh em và đồ đoàn lại đi một mình. Dạ hồn nhiên cười nói rằng, mình biết chi mô, ra khỏi nhà cầu, thấy người ta xếp hàng mình tìm không thấy anh Chiêu và Đỉnh, có một người Việt hỏi mình đi mô, chìa vé cho ông ta coi, ông ta bảo theo ông ta, cùng đi một chuyến, rứa là lên máy bay!

Trời ạ. Việc to như bị bắt cóc mà chúng tôi lo sợ phỏng đoán, cả đêm qua hai anh em thức canh đồ cho mụ, bàn nhau thế này thế nọ còn mụ thì cho là quá đơn giản!

***

Đô thị nước Mỹ rộng lớn, đông đúc, nghiêm ngặt và trật tự. Lần ra khỏi khách sạn đầu tiên tôi và Tô đại ca cùng Lâm Thị Mỹ Dạ đứng ngắm đường cao tốc với nhiều làn xe thực sự cảm tháy choáng ngợp. Không hề nghe tiếng còi ô tô, tôi bảo.

Dạ và Tô đại ca thì im lặng nên tôi nói tiếp, không hề nghe các tạp âm như ở nhà. Anh Chiêu nhận xét: “Mình sang Mỹ thấy lạ cũng như Mỹ sang mình thấy lạ. Hai thằng đánh nhau ngu bỏ mẹ!”. Mãi sau này tôi càng nghiệm ra, lão này tưởng chỉ cao lớn cái xác, ai dè hóm hỉnh cái đầu và chí lý phết!

Chúng tôi được mời dự cuộc tọa đàm, nghe tưởng tọa đàm là to là nghiêm trọng, không ngờ đây chỉ là cuộc gặp gỡ thân mật với các bạn cựu chiến binh Mỹ. Họ có ba người, chúng tôi đã quen nhau mấy bữa nay: Bruce Wer, Kevin, và nhà thơ Nguyễn Bá Chung - người làm cái việc thông dịch vừa làm trên cả thông dịch, ấy là hướng dẫn mọi nhẽ cho cả hai bên.

Bruce Wer, nhà thơ, giáo sư, lính Mỹ chính cống, từng là quân của Sư đoàn không vận số I đóng tại An Khê (Gia Lai). Khi Bruce ở đó thì tôi cũng ở đó, mỗi “thằng” một bên. Nếu đụng độ thì biết thế nào nhỉ? Tôi là lính huyện đội, gọi là K8, tham chiến không khác gì du kích, chỉ luồn lách xung quanh căn cứ địch, đánh nhỏ lẻ, quấy đảo đùng đoàng với bọn địa phương quân, lá chắn vòng ngoài của Mỹ, chỉ cần nổ vài phát gây bất ngờ cho địch rồi chạy vô rừng. Chiến thuật chính của chúng tôi là đánh chớp nhoáng.

Hai địch thủ là tôi và Bruce xưa, kể lại cho nhau hồi ấy thế nào và bây giờ với nhau… thế nào. Tôi nói tôi đã viết một số truyện về đời lính của tôi hồi ở huyện đội An Túc (An Khê). Bruce Wer rất hào hứng và hẹn sẽ về Việt Nam theo tôi về An Khê thăm nơi gây cho chàng những kinh hoàng thời trai trẻ. Mấy hôm sau, chuyện tiếp tục và cuối cùng tôi và Bruce Wer đã bắt tay nhau hẹn cùng nhau sẽ ra một cuốn truyện viết về cuộc chiến nhìn từ hai thằng lính ở hai chiến tuyến.

Chuyến đi ấy tôi và nhà thơ Nguyễn Duy có sáng kiến đãi các nhà văn nhà thơ Mỹ bữa cơm lính Trường Sơn. Chúng tôi làm cơm vắt muối vừng, rau quả linh tinh mua từ chợ Mỹ. Ở Mỹ, đi chợ mua rau quả gì cũng có, nhưng không thấy có rau tàu bay! Chúng tôi mời các bạn Mỹ ăn cơm nắm muối vừng, ngô khoai sắn nướng, và có thêm cả thịt bò nướng, rượu whiskey và vodka. Chơi ngoài sân, chuyện noài sân. Ăn uống no nê, đọc thơ, kể chuyện ngon nghẻ thích thú lắm.

Anh Nguyễn Bá Chung có sáng kiến mỗi người phải đọc một bài thơ hay kể một câu chuyện thời chiến tranh. Anh bảo miễn cho Đỉnh và Bruce vì nãy giờ hai người kể nhiều rồi. Chiêu đại ca đứng lên, kéo Kevin, Bruce lại đo xem ai cao hơn ai. Quả thật hai ông Mỹ đều thấp hơn ông lính pháo binh Việt cộng.

Anh Chiêu lấy trong ba lô ra hai tập sách của anh trịnh trọng ngồi vào bàn viết tặng các bạn Mỹ rồi nói ngắn gọn: “Tất cả những gì cần nói về cuộc chiến đã qua của tôi nằm hết trong này, mong ông Bá Chung tìm cách dịch ra cho các bạn đọc giúp tôi. Tôi quan niệm, một người lính chiến thì kể chuyện đánh nhau bằng miệng rất kém, thậm chí dở ẹc”. Anh lại cười. Cái kiểu “cười trừ rất Tô Đức Chiêu” khiến mọi người chỉ biết hoan hô nhiệt liệt.

Đến lượt Lâm Thị Mỹ Dạ đọc thơ. Dạ vốn người nhỏ nhắn, xinh đẹp, nói tiếng Anh bằng giọng Huế rất chư là Huế, rất chư là tức cười. Tôi chả hiểu là mụ nói, đọc những chi nhưng Kevin và Bruce rất chăm chú nghe, hoan hô tất nhiên là nhiệt tình vô cùng.

Nhà văn Trung Trung Đỉnh và nhà thơ Bruce Wer.

Trung Trung Đỉnh